Bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ “Thần thoại về mặt trời ở Việt Nam”

Ngày 10 tháng 11 năm 2015 vừa qua, Học viện Khoa học xã hội (số 477 Nguyễn Trãi, Hà Nội) đã tổ chức Lễ ḃảo vệ luận án Tiến sĩ cho Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Trâm, sinh năm 1982, Giảng viên bộ môn Văn học Việt Nam, Khoa Sư phạm Ngữ văn.

Luận án với đề tài: “Thần thoại về mặt trời ở Việt Nam”

Ngành: Văn học; Chuyên ngành: Văn học dân gian

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thị An

Hội đồng chấm luận án gồm 7 thành viên:

1 . PGS. TS. Nguyễn Đăng Điệp (Chủ tịch Hội đồng)

2 . GS.TS. Lê Chí Quế (Phản biện 1)

3 . GS.TS. Lê Hồng Lý (Phản biện 2),

4 . PGS.TS. Lê Trường Phát (Phản biện 3)

5 . TS. Bùi Thị Thiên Thai (Thư ký)

6 . PGS.TS. Trần Đức Ngôn (Ủy viên)

7 . PGS.TS. Phạm Thu Yến (Ủy viên).

Đánh giá của Hội đồng về luận án: Luận án đã đáp ứng xuất sắc những yêu cầu về nội dung và hình thức của một luận án Tiến sĩ Văn học. 7/7 thành viên Hội đồng đồng ý đề nghị cấp bằng tiến sĩ Văn học, chuyên ngành Văn học dân gian cho Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Trâm.

Những đóng góp của luận án:

Đây là luận án đầu tiên nghiên cứu thần thoại về mặt trời ở Việt Nam một cách chuyên sâu và hệ thống. Bằng việc ứng dụng các lý thuyết hiện đại trong ngành thần thoại học và folklore học trên thế giới, luận án nghiên cứu thần thoại vừa ở phương diện hình thức tự sự dân gian, vừa dưới dạng biểu tượng, nghi lễ gắn với môi trường diễn xướng và bối cảnh văn hóa.

Luận án đã khảo s.á.t truyện kể, khu vực lưu truyền, motif và tín ngưỡng, nghi lễ thờ mặt trời nhằm chỉ ra tính hệ thống của thần thoại mặt trời và mối quan hệ giữa truyện kể và nghi thức thờ cúng.

Luận án đã chỉ ra các lớp nghĩa của biểu tượng mặt trời, mối quan hệ giữa cấu trúc motif ở bề nổi và cấu trúc biểu tượng đa tầng ở bề sâu, chỉ ra tính phổ quát nhân loại cũng như những sắc thái dân tộc đặc thù trong sự đối sánh với thần thoại thế giới.

Bằng việc đi sâu nghiên cứu trường hợp truyện Cố Bợ ở Nghệ Tĩnh, luận án đã phân tích, lý giải xu hướng giải huyền thoại trong thần thoại mặt trời, từ đó, gợi mở nhiều vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn như xu hướng giải huyền thoại, quy luật pha’t triển, chuyển hóa và kế thừa thể loại, hiện tượng giao thoa thể loại, quy luật tác động của bối cảnh diễn xướng và môi trường địa văn hóa lên truyện kể, hiện tượng thất truyền và pha tạp của thần thoại Việt Nam, các hiện tượng giải thiêng trong đời sống đương đại…

Luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, có thể ứng dụng trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu văn hóa, văn học ở trường đại học cũng như tìm hiểu tâm thức xã hội hiện đại.

Sau đây là một số hình ảnh trong buổi lễ:

NCS trình bày luận án trước các thành viên Hội đồng

NCS chụp ảnh lưu niệm cùng Hội đồng chấm luận án

Đại diện BCN Khoa SP Ngữ văn và bạn bè đồng nghiệp chúc mừng NCS

Luận án chủ tịch xã giao tiếp với dân là “đề tài tiến sĩ hay”

Không đồng tình với suy nghĩ rằng luận án tiến sĩ phải “to tát, hoành tráng”, GS Vũ Dũng thuộc Viện Hàn lâm KHXH cho rằng “Đặc điểm giao tiếp với dân của Chủ tịch UBND xã” là đề tài tiến sĩ hay.

Sau khi báo chí đặt vấn đề có hay không “lò” đào tạo tiến sĩ tại Học viện Khoa học xã hội của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội, viện này đã tổ chức họp báo ngày 22-4 để giải đáp những thắc mắc của phóng viên và khẳng định không có luận án nào mông lung xa vời.

GS Võ Khánh Vinh, Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, cho hay hiện học viện có 20 khoa, đào tạo 36 ngành tiến sĩ. Chỉ tiêu hàng năm của học viện là 350, chia đều cho 36 ngành thì mỗi ngành có chưa đầy 10 chỉ tiêu.

Các luận án tiến sĩ được bảo vệ liên tục tại Học viện Khoa học xã hội

Con số này, theo GS Vinh là vẫn còn ít. “Một số ngành rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước nhưng thực tế số chỉ tiêu đào tạo tiến sĩ vẫn còn ít ỏi” – ông Vinh khẳng định.

Về quy trình đào tạo tiến sĩ của học viện, GS Vinh nhấn mạnh quy trình rất chặt chẽ. Việc bảo vệ đề tài của nghiên cứu sinh phải đúng niên hạn, nghiên cứu sinh nào không làm đúng sẽ gửi trả về, nếu học lại sẽ phải học đúng 3 năm. Đó là thành công trong đào tạo tiến sĩ của học viện.

Liên quan đến vấn đề dư luận quan tâm là chất lượng đào tạo tiến sĩ ở học viện ra sao, GS Vinh nhấn mạnh, Học viện không du di, nhẹ tay với nghiên cứu sinh. “Chúng tôi tuyệt đối tin tưởng vào các nhà phản biện kín, có những luận án phải sửa chữa, sau đó gửi lại những GS phản biện kín.

Việc thực hiện các đề tài luận án tiến sĩ được công khai hóa trên web của học viện để xã hội giám sát, bảo đảm trải qua 3 bộ lọc: chuyên môn, xã hội, đạo đức. 412 người giảng viên từ Viện hàn lâm, đều là giảng viên cơ hữu. Chưa nơi nào mà có nhiều đề tài nghiên cứu được đưa vào giảng dạy nhiều như ở Học viện. Đặc thù của học viện là có rất nhiều GS, PGS, Tiến sĩ danh tiếng” – GS Vinh tiếp tục khẳng định.

Lãnh đạo Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam cho hay thêm trong số 10% luận án tiến sĩ được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn ngẫu nhiên chấm thẩm định lại, học viện không có luận án nào. Tới đây, học viện có phần mềm để có thể phát hiện những hiện tượng gian lận trong khi làm đồ án, coppy luận án người khác

Nói thêm về những luận án bị cho báo chí dẫn chứng những ngày qua, GS Vũ Dũng, Viện trưởng viện Tâm lý thuộc Học viện, cho rằng đề tài “Đặc điểm giao tiếp với dân của Chủ tịch UBND xã” là đề tài hay, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất tốt, được các cấp hội đồng đánh giá là đề tài có ý nghĩa thực tiễn lớn. “Vì nếu không có giao tiếp thì không có con người. Từ trước đến nay chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này, Việt Nam có 11.164 xã, đồng nghĩa có 11.164 chủ tịch xã, rất đáng để nghiên cứu.

Vì sao đề tài nghiên cứu ở chủ tịch cấp xã?, vì đó là cấp chính quyền cuối cùng trong hệ thống chính trị của chúng ta, chính sách có đi vào cuộc sống hay không phụ thuộc rất nhiều vào chính quyền cấp xã. Chủ tịch xã có hiểu được dân hay không, nắm được dân hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào vấn đề giao tiếp. Vì thế, chúng tôi cho đây là đề tài rất thực tiễn. Số lượng cán bộ đơn vị cấp cơ sở lớn như vậy có đáng để nghiên cứu không, các bạn hãy tự trả lời?” – ông Dũng đặt câu hỏi.

GS Dũng cũng cho rằng trong suy nghĩ của nhiều người, luận án phải to tát, hoành tráng. “Hoàn toàn không phải vậy. Tôi đi 20 nước, đã tới hàng chục trường ĐH, ở các nước phát triển những vấn đề nghiên cứu hết sức cụ thể. Ví dụ có những đề tài nghiên cứu về hành vi viết chữ trong nhà vệ sinh, nhổ nước bọt ngoài đường… Nếu ở Việt Nam sẽ thành vớ vẩn, nhưng ở nước ngoài được đánh giá có tính thực tiễn, văn hóa lớn”.

Theo GS Dũng, các đề tài nghiên cứu của Học viện nói chung xuất phát từ yêu cầu gắn thực tiễn… Viện tâm lý học đi theo đường đó, nên không có đề tài nào mông lung xa vời. “Đề án được bảo vệ phải đi qua quy trình 8 bước, chặt chẽ như thế thì không có đề tài vớ vẩn, vô nghĩa nào được đưa ra bảo vệ” – ông Dũng nhấn mạnh.

Yến Anh

Theo NLD

You may also like...